z5407304360058_afb85c76a84f7de86c3d940db15d06b0

LỄ HỘI ĐÌNH CHÈM - DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA

 LỄ HỘI ĐÌNH CHÈM - DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA

Hội đình Chèm có từ xa xưa để tưởng nhớ ngài Lý Ông Trọng. Hội diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16/5 âm lịch hàng năm. Tương truyền, đây là ngày mà Đức Thánh Chèm khao quân. Ông Nguyễn Văn Sơn (60 tuổi - tiểu hiệu trong lễ hội) cho biết “trước đây dân làng có tổ chức hội vào tháng Giêng là ngày kỵ của Đức Thánh Chèm hoặc tháng hai là ngày kỵ của Đức Bà tuy nhiên Đức Thánh thiêng nên không chấp nhận. Do đó, dân làng vẫn phải tổ chức hội vào tháng Năm”. Những năm chiến tranh, dân làng không tổ chức hội lớn mà đến ngày lễ thì chỉ cụ Từ và một số cụ trong làng ra làm lễ. Năm 1990, hội được khôi phục lại và dần dần hoàn thiện như ngày nay.

9-5.jpg

Tham gia việc tổ chức hội là nhân dân ở ba làng kết nghĩa anh em với nhau: làng Chèm (hiện nay là phường Thụy Phương), làng Hoàng Xá và làng Hoàng Liên (hiện nay thuộc phường Liên Mạc). Làng Chèm (thờ chính) được gọi là anh cả, làng Hoàng Xá (thờ vọng) được gọi là anh hai và làng Hoàng Liên (thờ vọng) được gọi là anh ba. Cách xưng hô giữa ba làng gọi nhau là anh cả, anh hai, anh ba để thể hiện sự tôn trọng. Khi tổ chức lễ hội, thôn anh cả chịu trách nhiệm chính. Phần kinh phí thì anh cả phải chịu hoàn toàn. Đồng thời thôn anh cả có quyền phân công các công việc phục vụ hội cho thôn anh hai và anh ba. Ví dụ như tổng số quân phù giá có khoảng 40 người thì thôn anh cả sẽ lấy 20 người, thôn anh hai và thôn anh ba mỗi thôn 10 người.

Công tác chuẩn bị trước hội là rất quan trọng. Sau ngày mùng 2 tháng Hai (tức ngày kỵ của Đức Bà), các cụ trong đình bắt đầu tiến hành họp bàn về tổ chức  hội của năm, kiểm tra đồ thờ, đồ rước cũng như trang phục rước ở đình… Việc phân công và kiểm tra số người tham gia phục vụ lễ hội là rất quan trọng vì đòi hỏi huy động đông đảo nhân lực. Chẳng hạn cần có người phục vụ từng chức danh trong hội như:

- Thủ hiệu: tức là những người đánh trống lớn điều khiển việc rước hoặc tế lễ. Trong lễ hội thường có từ 4 - 5 ông Thủ hiệu.

- Tiểu hiệu: là người đánh trống khẩu trực tiếp điều hành đội phù giá. Trong lễ hội có nhiều Thủ hiệu nhưng chỉ có hai Tiểu hiệu. Một ông là người ở thôn anh cả, một ông là người ở thôn anh hai hoặc anh ba. Tuy nhiên, do thôn anh hai có cụ Sứ được thờ ở đình nên việc nhận vai Tiểu hiệu là người của thôn anh hai còn thôn anh ba chỉ tham gia vào công tác phục vụ. Hai ông tiểu hiệu phải là những người từ 55 tuổi trở lên, gia đình không vướng tang, có sức khỏe tốt, vợ chồng song toàn và có cả  con trai, con gái.

- Đội phù giá: khoảng 70 người là những nam giới từ 18 đến 35 tuổi. Phù giá phải là những người có tư cách đạo đức tốt, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của các cụ, những ngày hội không được ăn thịt chó hoặc uống rượu, bia. Đối với những người đã có gia đình thì phải ở xa vợ để tránh ô uế. Trước khi tổ chức lễ hội các cụ phải kiểm tra số lượng người tham gia đội phù giá xem có đủ không, có bao nhiêu người năm trước xin nghỉ thì năm sau phải bổ sung bấy nhiêu thành viên mới. Đội phù giá hàng năm đều có thành viên mới và những thành viên này sẽ học tập cách lễ, cách hô cũng như cách đi từ các thành viên cũ hoặc được ông tiểu hiệu hướng dẫn.

Trước đây, trang phục của đội phù giá là đóng khố, cởi trần và đi chân đất tuy nhiên từ khi khôi phục lại lễ hội thì các cụ đã cải tiến nên hiện nay trang phục của đội phù giá là mặc áo may ô màu trắng, quần giống như một chiếc váy xòe màu đỏ, có thắt đai đỏ, chân đi giày ba ta và đội khăn xếp. Trang phục của các thành viên trong đội phù giá được các thành viên tự cất giữ, sau khi hết hội sẽ mang về nhà cất để năm sau tiếp tục ra phục vụ. Nếu người phù giá không tham gia phục vụ nữa thì phải mang trang phục trả lại cho nhà đình.

8-9.jpgĐội phù giá nam ba làng làm lễ xin mộc dục

Trước khi tham gia bất cứ một nghi lễ nào đội phù giá cũng phải vào làm lễ. Khi làm lễ ông tiểu hiệu sẽ hô hiệu lệnh để mọi người làm theo, đồng thời cũng tùy từng hoàn cảnh để hô cho đúng. Chẳng hạn, khi rước văn từ chùa về đình để làm lễ tế thì trước khi rước văn ông tiểu hiệu sẽ hô “Thông, phù giá tam xã, liền anh chiếu trên, liền em chiếu dưới, nghe trống lễ, lễ cho đều, 1 tiếng thì lễ, hai tiếng thì lên, nghe tang khăn bế khẩu (tức là lấy khăn che miệng lại), nghe trống khoan thanh, khoan thanh 3 tuần, dưỡng dực hai hàng vào phụng nghinh văn tế” hoặc khi chuẩn bị rước Đức Thánh Chèm ra mộc dục thì ông tiểu hiệu sẽ hô “Thông, phù giá tam xã, liền anh chiếu trên, liền em chiếu dưới, nghe trống lễ, lễ cho đều, 1 tiếng thì lễ, hai tiếng thì lên, nghe tang khăn bế khẩu, nghe trống khoan thanh, khoan thanh 3 tuần, dưỡng dực hai hàng vào phụng Đức Thánh”. Khi khoan thanh, những người phù giá đều phải reo “ù chóe, ù chóe, ù chóe”. Theo như ông Sơn thì khi reo thường sẽ mất đi âm “ch” ở đầu cho nên tiếng reo chỉ còn là “ù óe, ù óe, ù óe” và càng reo rít miệng bao nhiêu thì âm thanh càng vang và càng hay bấy nhiêu.

-  Ban lễ tân: là những người phụ nữ từ 30 tuổi trở lên. Khi hội đình Chèm được khôi phục (năm 1990) đã thành lập ban này phục vụ hội. Ban lễ tân sẽ chia ra thành nhiều bộ phận nhỏ như tiểu ban đón lễ (có nhiệm vụ đón lễ và tiến lễ vào trong cung), tiểu ban ghi nhận công đức, tiểu ban phục vụ nước. Ban lễ tân thường chia việc theo ca để lúc nào cũng có người trực ở đình. Ca sáng là từ 5 giờ sáng đến 2 giờ chiều, ca chiều bắt đầu từ 2 giờ chiều đến 10 giờ tối. Ca nào phục vụ xong phải dọn dẹp sạch sẽ để ca sau đến tiếp nhận.

- Đội sinh tiền: là các em gái từ 13 đến 16 tuổi,  khoảng 20 người.

Hội chính diễn ra trong 3 ngày, từ 14 đến 16 tháng năm (âm lịch). Trước đó hai ngày 12 - 13 tháng năm âm lịch là công tác chuẩn bị.

* Ngày 12 tháng năm âm lịch: các cụ ở đình tiến hành làm lễ phục y tức là thay y phục cho các vị thần được thờ gồm có Đức Thánh Chèm, Đức Bà, Ông Sứ, Lục vị vương (con của Đức Thánh Chèm), một ông quản voi và hai nàng hầu. Hàng năm, các cụ tiến hành làm lễ phụng y hai lần: một lần vào dịp trước hội và một lần vào ngày 25 tháng Chạp hàng năm. Khi làm lễ phục y, đầu tiên các cụ làm lễ xin phép sau đó mới cởi bỏ y phục của các Ngài và dùng nước sạch để bao sái tượng thờ. Bao sái xong sẽ mặc trang phục mới.

Riêng việc phụng y cho Đức Bà thì do hai người phù giá nữ thực hiện dưới sự hướng dẫn của ông Trưởng Ban Khánh tiết. Hai phù giá nữ phải có những tiêu chuẩn sau đây: là phụ nữ ở làng Chèm, lấy chồng ở làng, phải góa chồng, từ 60 tuổi trở lên, có phẩm chất đạo đức tốt, ngoại hình ưa nhìn. Những người người nơi khác lấy chồng về làng Chèm dù có đủ các tiêu chuẩn trên cũng không được tham gia làm phù giá. Hai phù giá nữ có nhiệm vụ khi tổ chức lễ hội sẽ theo hầu kiệu của Đức Bà, làm lễ mộc dục cho Đức Bà. Ông Tạc cho biết “Hai phù giá này được ví như con gái của Đức Bà. Khi làm lễ mộc dục thì giống như con gái tắm cho mẹ”. Bà Nguyễn Thị Nhợi (67 tuổi) cho biết: trước đây bà tham gia vào đội dâng hương của đình. Năm 2015, được các cụ ở đình mời làm phù giá. Lúc này, bà phải sắm lễ vật (hoa quả) lên trình Đức Ông và Đức Bà để xin phép được theo hầu Đức Bà. Bà Nhợi nói “được chọn như thế này thì thấy rất thoải mái và tự hào”. Năm 2015, bà Nhợi chọn cô cháu gái 20 tuổi để làm người hầu với nhiệm vụ bê tráp trầu mà hai bà phù giá têm đi cùng đoàn rước để mời những người có tuổi trong làng.

* Ngày 13 tháng Năm âm lịch: buổi sáng, nhân dân tổ chức thi nấu chè kho tại đình. Tham gia cuộc thi là người của 7 tổ dân phố thuộc phường Thụy Phương (các tổ dân phố Đình, Đại Đồng, Hồng Ngự, Cầu Bảy, Đông Sen, Tân Phong và Tân Nhuệ) cùng với tổ dân phố Hoàng Xá và tổ dân phố Hoàng Liên thuộc phường Liên Mạc. Mỗi tổ dân phố cử ra 6 người để thi nấu chè kho. Chiều ngày 12 tháng Năm, các tổ dân phố ra bốc thăm để nhận dụng cụ và nguyên liệu thi đấu. Dụng cụ gồm có chõ đồ hoặc xoong gang nấu đỗ, nồi đồng để nấu chè, rá, bơi chèo đẩy đỗ (một loại dụng cụ giống mái chèo nhưng ngắn hơn, dùng để nhào, trộn đỗ cho đều). Nguyên liệu gồm có đỗ xanh, đường trắng, dầu chuối, mỡ lợn. Mỗi đội được cấp 6kg đỗ và 9kg đường trắng để thi đấu. Quy trình nấu chè kho được các cụ truyền lại, đảm bảo các công đoạn như: xát vỏ đỗ, đồ đỗ, giã đỗ, nắm đỗ, thái đỗ, trộn đỗ và cuối cùng là nấu thành chè. Ở hội đình Chèm tập quán nấu chè bằng nồi đồng vẫn còn giữ được.

Chè nấu khoảng 50 phút là được. Kinh nghiệm để nấu chè kho ngon là khi nấu không nên dùng lửa để nấu mà dùng than để nấu thì chè sẽ không bị cháy và sẽ bốc hơi đều, khi đẩy bơi chèo phải đẩy cho đều thì chè mới không bị vón cục.

Chè được đóng  thành 5 bánh để dâng lên Đức Ông và chấm điểm cuộc thi. Số chè kho còn lại sau khi làm 5 bánh sẽ được đóng nốt để đem về tán lộc tại tổ dân phố. Với 6kg đỗ được cấp mỗi đội có thể làm được từ 115- 125 bánh chè. Các đội sẽ mang những bánh chè kho còn lại về thắp hương tại các di tích ở tổ dân phố và sau đó phát lộc Thánh cho các gia đình và các cụ từ 80 tuổi trở lên.

* Ngày 14 tháng Năm âm lịch là ngày chính hội.

- Buổi sáng  sau chương trình khai hội của các cấp chính quyền, nhân dân tiến hành Lễ rước nước: đoàn rước kiệu làm lễ tại đình Chèm, sau đó xuất phát từ đình xuống đến nhà Mã (hay còn gọi là bến Ngự) rồi xuống thuyền ra giữa sông lấy nước. Nay nhà Mã không còn nữa nên đoàn rước đến địa điểm Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Hà Nội gần bờ sông để lên thuyền.

Đoàn rước đi theo thứ tự như sau: Đội rồng và sư tử; cờ thần và cờ tổ quốc; tổng cờ (cầm cờ phất - đi sau còn có 12 người cầm cờ phất); đại hiệu; đồng văn; thủ hiệu; cờ lịch chiều (20 lá); đội bát bửu; đội trắc tử (đội rước hương án); cờ lịch chiều (10 lá); thủ hiệu; lư hương (2 lư hương do hai người con gái gánh); đội bát bửu; thủ hiệu; bát âm; các em học sinh rước 3 gáo đồng, xô và vòng càn khôn; ba chĩnh nước; cờ lịch chiều ( 10 lá); thủ hiệu; gươm hầu; kiệu Đức Ông; tế chủ; tế tự; hai gươm hầu trước kiệu Đức Bà; hai quạt cò; phù giá bà; tế tự; các đoàn dâng hương; quân cờ người; các ban ngành, đoàn thể ở địa phương.

7-11.jpg

Đoàn rước nước từ đình Chèm đến bến sông Hồng

Đoàn thuyền rước nước gồm có hai thuyền. Thuyền nhỏ chở ba chĩnh nước, những người phù giá rước ba chĩnh nước (mỗi làng phụ trách một chĩnh: anh cả phụ trách chĩnh nước của Đức Ông, anh hai phụ trách chĩnh nước của Đức Bà, anh ba phụ trách chĩnh nước của ông Sứ), hai lư hương, các em học sinh cầm gáo, xô và vòng càn khôn, cụ Chủ tế và hai cụ trong đội tế của đình. Một thuyền khác lớn hơn gồm có đội rồng, sư tử, các cụ trong đội tế, đội dâng hương và những người tham gia lễ hội. Đoàn thuyền rước đi một vòng qua hết địa phận của ba làng Chèm, Hoàng Xá và Liên Mạc thì quay 3 vòng rồi đi chậm lại rồi dừng lại sau đó cụ Chủ tế tiến hành múc nước vào chóe. Đầu tiên, một người phù giá thả vòng càn khôn xuống để lọc nước. Sau đó cụ Chủ tế dùng gáo đồng để múc nước trong vòng càn khôn đó lên chĩnh. Cụ Chủ tế tiến hành múc mỗi chĩnh 3 gáo nước. Khi múc nước vào chĩnh nào phải dùng gáo của chĩnh đó. Sau khi múc xong, một thành viên trong đội phù giá dùng xô nhựa múc đầy xô và để cạnh ba chĩnh nước để rước về. Tương truyền rằng trước đây vòng càn khôn được làm bằng sừng tê giác, khi thả xuống nước sẽ trong và các cụ chỉ cần múc vào chĩnh là được nhưng hiện nay vòng càn khôn bằng cây song nên phải có thêm phèn chua thả vào để cho nước trong hơn.

6-13.jpg

Lấy nước xong, đoàn thuyền rước quay trở về địa điểm xuất phát. Khi về qua đình các thuyền phải quay đầu vào để lễ Đức Thánh rồi  trở về bãi tập kết. Tại đây một người phù giá múc nước từ xô vào các chĩnh nước cho đầy sau đó mới rước các chĩnh nước trở về đình. Về đến đình, chĩnh nước được rước vào Hậu cung rồi chuyển nước vào các chĩnh khác để ngày 15 làm lễ mộc dục.

* Buổi chiều ngày 14:

+ Rước văn: đoàn rước xuất phát từ đình đến chùa để rước văn về tế lễ. Trước đây, việc tả văn phải do những người có chức sắc trong làng viết và khi viết xong phải mang ra đình để các cụ cao tuổi khảo văn, thấy chỗ nào sai thì người tả văn phải sửa lại cho chính xác. Sau đó đến ngày hội, dân làng vào nhà cụ tả văn để đón văn. Từ khi khôi phục lại lễ hội việc rước văn có một số thay đổi lớn. Trước đây, văn tế được viết bằng chữ Hán nhưng từ khi khôi phục lại lễ hội thi văn tế được viết bằng chữ quốc ngữ. Người tả văn sẽ viết văn tại nhà sau đó văn tế  được rước ra nhà văn hóa để ngày hội rước về đình tế lễ. Khoảng những năm 1994, để đảm bảo tính linh thiêng của hội, Ban Quản lý di tích cùng các cụ cao niên quyết định rước văn tế ra chùa để thờ. Từ đó ngày 13/5, cụ Chủ tế vào nhà cụ tả văn rước văn ra chùa để thờ. Đoàn rước gồm có một người đánh trống khẩu, Chủ tế rước hộp văn và một người cầm lọng che hộp văn. Đến chùa, hộp văn được đặt lên ban thờ của chùa. Đến chiều ngày 14 dân làng rước văn  từ chùa về đình.

Trước khi rước văn ra khỏi chùa, Chủ tế vào làm lễ, sau đó đến các cụ trong đội tế. Khi đến đội phù giá vào lễ thì ông Thủ hiệu phải hô như sau “phù giá tam xã, liền anh chiếu trên, liền em chiếu dưới. Nghe trống lễ cho đều, một tiếng thì lẽ, hai tiếng thì lên, nghe tang khăn bế khẩu, nghe trống khoan thanh, khoan thanh 3 tuần, dưỡng dực hai hàng vào phụng nghinh văn tế”. Đội phù giá làm lễ xong thì Chủ tế rước hộp văn ra kiệu để rước về đình. Về đến đình, kiệu long đình được hạ ở trước nhà Đại bái sau đó Chủ tế rước hộp văn vào trong cung để cho người tả văn dán vào giá văn. Mọi việc hoàn thành, đội tế sẽ bắt đầu tế lễ.

+ Tế lễ: đội tế có 23 người nhưng tế chính thức có 16 người. Tham gia đội tế là người của ba làng: Chèm, Hoàng Xá, Hoàng Liên. Tuy nhiên, Chủ tế thì nhất thiết phải là người của làng Chèm. Làng Hoàng Xá cử một người ra làm Bồi Bái, còn làng Hoàng Liêm chỉ đứng trầu để hỗ trợ các cụ.

- Buổi tối: nhân dân có tổ chức giao lưu văn nghệ. Trước đây vào dịp lễ hội, dân làng có mời các đoàn ca trù về biểu diễn tại đình làng.

* Ngày 15 tháng năm âm lịch:

- Buổi sáng:

+ Lễ rước nước: diễn ra theo trình tự như ngày 14.

+ Lễ bài ban (xin dọn ban thờ): nghi lễ này diễn ra vào khoảng 11 giờ trưa. Lúc này, các cụ trong Ban Khánh tiết, Ban tế tự  cùng đội phù giá tiến hành dọn các đồ thờ ở ban thờ của Đức Ông và Đức Bà tại hậu cung để chuẩn bị cho nghi lễ phụng nghinh hai Ngài ra ngoài.

+ Lễ mộc dục: được diễn ra tại hai tòa tiểu vương đình vào chính Ngọ tức vào đúng 12 giờ trưa. Sau khi làm lễ bài ban xong, quân phù giá sẽ đưa kiệu vào để phụng nghinh long ngai của hai Ngài từ hậu cung ra tiểu vương đình. Chủ tế, Trưởng ban Khánh tiết, hai ông tiểu hiệu và hai bà phù giá vào Hậu cung để rước hai Ngài lên kiệu. Những người này có nhiệm vụ rước Đức Ông và Đức Bà từ ban thờ lên kiệu. Kiệu được đặt ở giữa cửa ra vào của gian Hậu cung có rèm che. Đồng thời, phù giá đứng xung quanh kiệu để người ngoài không nhìn được nghi lễ này. Trong lúc các mọi người rước long ngai của hai Ngài lên kiệu thì ở bên ngoài đội phù giá thỉnh thoảng lại hô “ù chóe, ù chóe”. Trong quá trình rước long ngai của Đức Thánh ra thì tất cả mọi người tham gia trực tiếp vào việc rước đều phải bịt miệng bằng khăn đỏ. Kiệu được rước từ hậu cung ra tòa tiểu vương đình để làm lễ mộc dục.

Tham gia làm lễ mộc dục cho Đức Ông và Đức Bà gồm có 5 người: Chủ tế, Tả văn, Trưởng Ban Khánh tiết tại đình và hai bà phù giá. Có hai loại gáo được sử dụng trong lúc mộc dục: một gáo nhỏ được dùng để múc nước từ chĩnh ra chậu nhôm và một gáo nhỏ như chén uống nước được dùng để múc nước ở chậu lêntắm tượng. Các cụ dùng 7 gáo nước để làm lễ mộc dục theo trình tự như sau: thủ đại y (trên đầu) tam chĩnh (3 gáo nước), tả thủ (bên phải) nhất chĩnh (một gáo), hữu thủ (bên trái) nhất chĩnh, tiền ngân (phía trước) nhất chĩnh, hậu bối (phía sau) nhất chĩnh.

Theo các cụ thì con số 7 biểu hiện cho 7 vì sao tinh tú. Sau khi dội nước xong, các cụ dùng khăn mặt mới bao sái (lau tượng) cho sạch sẽ, lấy nước hoa để tẩy uế và lấy khăn sạch lau lại một lần nữa cho thật khô rồi mới mặc trang phục cho nhà Ngài.

Việc mộc dục cho Đức Bà phải do hai phù giá nữ thực hiện, các bà làm dưới sự hướng dẫn của cụ Trưởng Ban Khánh tiết. Khi làm lễ mộc dục cho hai Ngài, pháp sư và các thầy cúng phải đứng ở bên trong cổng đình để làm lễ quá độ tránh các tà ma xâm nhập vào hai Ngài khi mộc dục.

Sau khi làm lễ mộc dục xong, long ngai của Đức Ông và Đức Bà được đưa vào kiệu và rước vào ban công đồng để thờ, đến khoảng 2 giờ chiều đội phù giá tiến hành rước hai Ngài từ ban công đồng vào Hậu cung.

Giải thích cho việc này các cụ ở đình cho biết: phải rước hai Ngài vào ban công đồng để các Ngài nghỉ ngơi và nghe kinh cúng quá độ. Trước đây, khi rước các Ngài vào ban công đồng nghỉ ngơi thì có hát Chầu văn hoặc hát Ca trù để hầu nhà Ngài nhưng năm nay không làm nên chỉ có pháp sư cúng quá độ.

+ Lễ mộc dục cụ Sứ: khoảng 3 giờ chiều, nhân dân rước cụ Sứ từ Đại bái ra nhà vuông (căn nhà tạm được dựng lên bằng mấy cây cột gỗ lắp vào với nhau thành khung sau đó lấy vải che xung quanh, khi hết hội lại tháo nhà gỗ ra) ở ngoài cổng đình để làm lễ mộc dục. Trước khi rước ra mọi người phải làm lễ. Nếu như lễ Thánh thì lễ 4 lễ còn lễ cụ Sứ thì phải lễ 5 lễ.

Tương truyền rằng: cụ Sứ có công lớn đối với Đức Thánh Chèm nên được Ngài ban thưởng cho nhiều thứ nhưng cụ Sứ không lấy bất cứ thứ gì nên Đức Thánh Chèm nói nếu ông không lấy gì khi mất sẽ được lễ thêm một lễ do đó hiện nay khi làm lễ cụ Sứ nhiều hơn Đức Thánh một lễ. Khi rước cụ Sứ ra thì hai cụ Từ của đình phải ôm lấy tượng của Ngài để giữ và quân phù giá rước Ngài ra. Lễ mộc dục cụ Sứ diễn ra giống với lễ mộc dục của Đức Ông và Đức Bà.

* Ngày 16 tháng năm âm lịch:

Buổi sáng: dân làng tiến hành rước nước giống như hai ngày trước. Tuy nhiên nếu như nước của hai ngày trước được sử dụng để mộc dục cho Đức Ông, Đức Bà và cụ Sứ vào ngày 15 thì nước rước vào ngày 16 sẽ được để vào các chĩnh tại đình dùng suốt một năm. Buổi chiều tiến hành rước văn từ đình về chùa để tế hậu hội tức là tế kết thúc hội.

Nguồn: 

Mới hơn Cũ hơn