GIỚI THIỆU KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn
với lịch sử kinh thành Thăng Long – Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội. Di chỉ khảo
cổ này là minh chứng sống động cho nền văn minh châu thổ sông Hồng trong suốt
13 thế kỷ: bắt đầu từ thời tiền Thăng Long vào khoảng thế kỷ VII, đi qua thời
Đinh và tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, hậu Lê, đến triều Nguyễn
và tồn tại mãi đến ngày nay. Đầu tiên mời bạn đến với không gian trưng bày lịch
sử xây dựng Hoàng thành Thăng Long.
A. Lịch sử Hoàng thành Thăng Long
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập
vương triều Lý. Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua công bố thiên đô chiếu (chiếu
dời đô) để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La. Ngay sau khi dời đô,
Lý Công Uẩn đã cho gấp rút xây dựng Kinh thành Thăng Long, đến đầu năm 1011 thì
hoàn thành. Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình
tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao
quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch
và sông Kim Ngưu. Kinh thành là nơi ở và sinh sống của dân cư. Vòng thành thứ
hai (ở giữa) là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan
lại trong triều. Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành, nơi chỉ dành cho
vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ. Nhà Trần sau khi lên ngôi đã tiếp quản
Kinh thành Thăng Long rồi tiếp tục tu bổ, xây dựng các công trình mới. Sang đến
đời nhà Lê sơ, Hoàng thành cũng như Kinh thành được xây đắp, mở rộng thêm ra.
Trong thời gian từ năm 1516 đến năm 1788 thời nhà Mạc và Lê trung hưng, Kinh
thành Thăng Long bị tàn phá nhiều lần. Đầu năm 1789, vua Quang Trung dời đô về
Phú Xuân, Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Thời Nguyễn, những gì còn sót lại của
Hoàng thành Thăng Long lần lượt bị các đời vua chuyển vào Phú Xuân phục vụ cho
việc xây dựng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại
làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành. Năm 1805, vua Gia
Long cho phá bỏ tường của Hoàng thành cũ và cho xây dựng Thành Hà Nội theo kiểu
Vauban của Pháp với quy mô nhỏ hơn nhiều. Năm 1831, trong cuộc cải cách hành
chính lớn, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Khi chiếm
xong toàn Đông Dương, người Pháp chọn Hà Nội là thủ đô của liên bang Đông Dương
thuộc Pháp và Thành Hà Nội bị phá đi để lấy đất làm công sở, trại lính cho người
Pháp. Từ năm 1954, khi bộ đội ta tiếp quản giải phóng thủ đô thì khu vực Thành
Hà Nội trở thành trụ sở của Bộ quốc phòng. Như vậy giá trị đầu tiên của khu
trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội thể hiện ở chỗ nó gần như là một “bộ
lịch sử sống” chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long-
Hà Nội, kể từ thành Đại La thời tiền Thăng Long đến thời đại ngày nay.
B. Công trình kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng
Long – Hà Nội có diện tích 20ha, bao gồm khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các
di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như Bắc Môn, Đoan Môn,
Hậu Lâu, rồng đá điện Kính Thiên, nhà con rồng, nhà D67 và cột cờ Hà Nội. Cụm
di tích này được bao bọc bởi 4 con đường: phía bắc là đường Phan Đình Phùng,
phía nam là đường Điện Biên Phủ, phía đông là đường Nguyễn Tri Phương và phía
tây là đường Hoàng Diệu.
Kỳ Đài, hay thường được
gọi là Cột cờ Hà Nội. Đây là di tích có kết cấu dạng tháp, được xây dựng dưới
triều Nguyễn từ năm 1805 đến 1812, cùng thời với Hoàng thành Thăng Long. Cột cờ Hà Nội là di
tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long. Cột cờ cao 60 m, gồm có chân
đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và
gồm 3 cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa văn bao quanh. Từ mặt
đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây.
Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn
cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên “Nghênh húc” (Đón ánh nắng
ban mai), “Hồi quang” (ánh nắng phản chiếu), “Hướng Minh” (hướng về ánh sáng) và
từ cạnh dưới lên tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang. Công trình Cột cờ Hà
Nội vẫn đứng vững chãi, kiên cố đến ngày nay, và trở thành một trong những biểu
tượng của thủ đô Hà Nội.
Hình ảnh về cột cờ Hà Nội
Đoan Môn - cổng
chính dẫn vào Hoàng thành. Đoan Môn đã xuất hiện từ thời Lý, nhưng kiến trúc mà
chúng ta thấy ngày nay là do nhà Lê xây dựng vào thế kỷ XV và nhà Nguyễn tu bổ
vào thế kỷ XIX. Đoan Môn là tường thành phía Nam, được xây theo lối kiến trúc
cuốn vòm cân xứng gần như tuyệt đối qua “trục thần đạo”, với 5 cổng thành: cổng
giữa to nhất dành cho vua, 4 cổng còn lại dành cho quan lại, hoàng thân, quốc
thích.
Hình ảnh Đoan Môn tại Hoàng Thành Thăng Long
Đoan Môn là cửa vòm
cuốn dẫn vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là
cửa Tam Môn khoảng 1812 – 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn
còn sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong
Đoan Môn đã tìm thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý.
Nếu khai quật tiếp, sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên
ở phía Bắc và cửa Tây Nam thành Hà Nội.
Bắt đầu từ Đoan Môn, băng qua một khoảng sân lớn gọi là Long
Trì, rồi đến Điện Kính Thiên – hạt nhân chính trong tổng thể di tích Hoàng
thành.
Điện Kính Thiên được
xây vào năm 1428, là nơi vua Lê Thái Tổ đăng cơ, về sau trở thành nơi cử hành
các nghi lễ long trọng của triều đình, các buổi thiết triều và đón tiếp sứ giả
nước ngoài. Điện Kính
Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh
lịch sử của thành cổ Hà Nội. Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung tâm của khu di
tích. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội, phía sau có Hậu
Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ. Dấu tích điện
Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ.
Hình ảnh phục dựng mô hình Điện Kính Thiên ở Hoàng
Thành Thăng Long
Năm
1816, vua Gia Long cho xây dựng lại điện, sử dụng làm nơi hành cung cho các vị
vua Nguyễn tuần du ra Bắc. Năm 1841, vua Thiệu Trị đã đổi tên điện thành Long
Thiên.
Cuối
thế kỷ 19, điện bị thực dân Pháp phá bỏ và xây trụ sở pháo binh. Vào tháng
10/2004, Điện Kính Thiên trong Hoàng thành Thăng Long được UBND TP. Hà Nội quản
lý và bắt đầu mở cửa đón khách du lịch. Năm 2020, TP. Hà Nội đã đưa ra kế hoạch
nghiên cứu phục dựng Điện Kính Thiên.
Trên
bờ nóc có đôi rồng chầu mặt trời đắp nổi rất tinh xảo. Điện được bao quanh bởi
khoảng sân rộng và có lan can bao bọc khắp 4 phía.
Hướng
chính Nam của điện có Thềm Rồng 10 bậc, được xây bằng phiến đá hộp lớn, chia 3
lối đi đều nhau với 4 con rồng đá. Hai bên bậc thềm có 2 con rồng đá uy nghi,
biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc đỉnh cao thời Lê sơ.
Bệ
rồng ở Điện Kính Thiên là một tuyệt tác điêu khắc thời Lê sơ. Rồng đá được
chạm trổ tinh xảo bằng đá xanh, có phần đầu nhô cao, đôi mắt to tròn, cặp sừng
dài có nhánh, bườm rồng uốn lượn sống động. Thân rồng rồng dài 3,4m, uốn 7
khúc, chân rồng 5 móng, lưng rồng dài có nhiều đường vân nhấp nhô như vẫn mây,
tia lửa. Tháng 12/2020, rồng đá trước thềm Điện Kính Thiên được công nhận là Bảo
vật quốc gia của Việt Nam nhờ tính nghệ thuật và tính sáng tạo đặc biệt của thời
Lê Sơ.
Hình ảnh bệ rồng ở Điện Kính Thiên
Hậu Lâu, hay còn được gọi là Tĩnh Bắc Lâu, là
tòa lầu được xây phía sau Điện Kính Thiên, khi xưa là chốn hậu cung – nơi sinh
hoạt của hoàng hậu, công chúa, và các cung tần, mỹ nữ. Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc lâu) là một toà lầu xây
phía sau cụm kiến trúc điện Kính Thiên là hành cung của thành cổ Hà Nội. Tuy ở
sau hành cung nhưng lại là phía bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía
bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc lâu và còn có tên là Hậu lâu (lầu
phía sau), hoặc là lầu Công chúa do cho rằng đây là nơi nghỉ ngơi của các cung
nữ trong đoàn hộ tống vua Nguyễn ra ngự giá Bắc thành.
Hậu Lâu xuất hiện từ sau đời hậu Lê, được xây theo kiến trúc
hình hộp với ba tầng, kết hợp giữa kiến trúc cổ truyền Việt Nam và Pháp. Nét
đặc trưng nhất của Hậu Lâu là độ dày của các bức tường, khiến các phòng luôn
mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đông.
Cuối thế kỉ 19, Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, và được người Pháp cho
cải tạo, xây dựng lại như hiện nay.
Hình ảnh Hậu Lâu hiện nay tại Hoàng Thành Thăng
Long
Cổng hành cung là nơi canh gác của quân lính, nhằm giữ an toàn
cho vua và hoàng tộc. Mỗi cổng hành cung là một công trình có thiết kế cầu kỳ,
vững chãi, làm tôn vẻ tráng lệ của cung điện. Trong Khu di tích Thành cổ
Hà Nội hiện còn tồn tại tám cổng hành cung như thế. Chính nhờ những cổng hành
cung này mà công việc xác định tọa độ các cung điện và lớp tường thành được
chính xác hơn.
Hình ảnh một cổng hành cung trong Hoàng Thành Thăng Long
Chính Bắc Môn còn gọi là Bắc Môn hay Cửa Bắc, là
cổng thành duy nhất còn lại của thành Hà Nội thời Nguyễn, được xây dựng năm
1805. Cổng quay hướng bắc chếch tây 15 độ, dạng hình
thang. Mép cửa kè đá hình chữ nhật, riềm trên bằng đá
trang trí viền cánh sen. Phía trên vòm cửa chính có gắn tấm biển đá ghi ba chữ
Hán “Chính Bắc Môn”, riềm biển đá trang trí nổi hoa dây. Bên cạnh có gắn một
tấm biển đá đề ngày 25/4/1882 và 2 vết đạn đại bác, dấu vết cuộc xâm lược Bắc
Kỳ của thực dân Pháp và sự phản kháng của quân dân ta thời đó.
Mặt phía Nam có riềm
trên trang trí hoa sen bằng những phiến đá ghép lại, cánh sen to, đầu tù, trong
có trang trí ba lớp vân xoắn, giữa thân cánh sen thể hiện một đao lửa. Phía này
cũng đặt hai máng xối bằng đá trang trí văn mây xoắn.
Dù Bắc Môn là công trình
do nhà Nguyễn xây dựng, nhưng dưới chân cổng thành sừng sững này là tầng tầng
lớp lớp di chỉ thành quách từ các triều đại trước đó, khẳng định sự liên tục
trong lịch sử ngàn năm của Hoàng thành.
Hình ảnh Di tích Bắc Môn trước khi trùng tu.
Năm 1998, tại di tích
Bắc Môn, ở độ sâu 1,66m và 2,20m các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy nhiều dấu
tích kiến trúc, trong đó có vết tích của một đoạn tường thành xây bằng đá và
gạch vồ. Hiện nay trên Vọng lâu
của Bắc Môn thờ hai vị tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã tuẫn tiết,
hy sinh khi thành Hà Nội rơi vào tay quân Pháp. Nhiều người dân vẫn thường
xuyên lên vọng lâu Bắc Môn để thắp nhang tưởng nhớ hai vị anh hùng lẫm liệt – những
người được hậu thế kính cẩn đặt tên cho hai con đường hiện đại chạy hai bên tả
hữu vòng thành cổ năm xưa.
Ngoài các công trình khảo cổ, trong Khu di tích
Thành cổ Hà Nội còn có hệ thống các công trình kiến trúc Pháp được xây dựng vào
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nay được trưng dụng làm trụ sở và cơ quan của
Nhà nước Việt Nam.
Trái ngược với tuổi đời lâu đời của di tích
Hoàng Thành Thăng Long, khu vực nhà D67 được coi là có tuổi đời trẻ nhất, được
xây dựng vào năm 1967. Đây là nơi làm việc của các đại tướng Võ Nguyên Giáp và
Văn Tiến Dũng, và là địa điểm tổ chức nhiều cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị
và Quân ủy trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước.
Từ Tổng hành dinh – Nhà D67 Khu A Bộ quốc
phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử
đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu
Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh
cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch
Hồ Chí Minh.


.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)